Thứ Tư, 1 tháng 9, 2021
689. PHÓNG NGƯU
PHÓNG NGƯU
慧中上士
Tuệ Trung Thượng sĩ
Đọc bài thơ tưởng như đang
trở về núi Quy Sơn chiêm bái Thiền sư Linh Hựu và được nghe sư vấn đáp với đệ
tử: Sau khi lão tăng trăm tuổi, đến dưới núi làm
con trâu, hông bên trái viết năm chữ “Quy Sơn Tăng Linh Hựu”. Khi ấy gọi là “Quy
Sơn Tăng” hay gọi là “con trâu”? Gọi thế nào mới đúng?. Hay như gặp được Thiền
sư Trường Khánh Đại An hay Thạch Củng Huệ Tạng trong Thiền phong mục đồng.
Đọc bài thơ cũng có cảm
giác được chiêm ngưỡng Thập mục
ngưu đồ, mười bức tranh thiền của Thiền tông. Mười bức tranh là: Tìm trâu, Thấy dấu, Thấy trâu, Được trâu, Chăn trâu, Cưỡi trâu về nhà,
Quên trâu còn người, Quên người lẫn trâu, Trở về nguồn cội và Thõng tay vào chợ.
Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2021
688. THOÁT THẾ-TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
THOÁT
THẾ
慧中上士
Tuệ
Trung Thượng sĩ
Con người ai cũng có phật
tính. Tại sao con người không đạt đến cảnh giới giác ngộ? Tại sao phật tính
trong con người không khai mở? Tại sao con người mãi giam thân trí trong ngục
tù luân hồi? Trả lời câu hỏi đầy nhức nhối đó, Tuệ Trung Thượng sĩ bảo: Tam giới mang mang tâm liễu liễu (Ba giới mênh mông lòng sáng tỏ). Nghĩa là muốn thoát đời, con người
phải làm sao cho tâm được rỗng rang, vượt thoát tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Còn bị ràng buộc bởi một trong
ba giới trên thì chưa thể Muôn việc mắt
nhìn có cũng không. Thoát khỏi ba giới mới an trú giữa đời vô thường một
cách tự nhiên như nhiên tựa quy luật vũ trụ thường hằng: Phương tây trăng lặn trời
hừng đông.Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2021
687. HOÀNG HẠC LÂU - NGUYỄN DU
HOÀNG HẠC LÂU
阮攸
Nguyễn
Du
Bài thơ Hoàng
hạc lâu được đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820) cảm tác khi đi sứ Trung
Quốc. Bài thơ in trong tập Bắc hành tạp
lục 北行雜錄. Tập thơ gồm 131 bài thơ
chữ Hán, sáng tác trong khoảng từ 1813 đến 1814. Bắc hành tạp lục được xem là đỉnh cao thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
Bài thơ Hoàng hạc lâu này thể hiện
cảm hứng hoài niệm về thời đại thịnh trị đã lùi sâu vào dĩ vãng, hoài niệm cái
đẹp đã mất, qua đó nhà thơ gởi gắm nỗi niềm ưu tư về đất nước, về con người
nhưng không thể thổ lộ cùng ai. Nỗi đau này đã từng day dứt nhà thơ trong Độc Tiểu Thanh kí: Không biết ba trăm năm lẻ nữa/ Thiên hạ ai người khóc Tố Như.
Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2021
686. XUẤT TRẦN
XUẤT TRẦN
慧中上士陳嵩
Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung
Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung (1230-1291) là một tôn thất nhà Trần. Ông đã từng tham chiến chống Nguyên Mông cùng em ruột là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Ông không xuất gia chỉ nghiêng về tu tập thiền. Thầy của ông là Thiền sư Tiêu Dao đời Lý. Tuệ Trung Thượng sĩ là một thiền sư có tinh thần phá chấp triệt để, có trí tuệ linh mẫn nên đã đạt ngộ. Tác phẩm của ông để lại là bộ Thượng Sĩ Ngữ lục gồm 3 phần. Phần 1 tập hợp những bài giảng cho học trò. Phần 2 là 49 bài thơ thiền với nhiều thể loại. Phần 3 gồm: một bài Thượng sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông, tám bài tán của tám thiền sư và bài bạt của Đỗ Khắc Chung.
Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021
685. YÊN TỬ SƠN AM CƯ
YÊN TỬ SƠN AM CƯ
玄光禪師
Huyền Quang thiền sư
Những ngày này chỉ biết ngồi trong nhà nhìn ra. Cửa không đóng nhưng phố phương chẳng thấy. Cả Đà Nẵng lo dịch. Cả nước chống dịch. Sự khốn nạn của cuộc sống lộ phơi. Lẽ vô thường không cần giảng rao. Con người đang chiệm nghiệm bằng nỗi đau đồng loại và sự sợ hãi của chính mình. Bỗng nhớ Thiền sư Huyền Quang ở am Yên Tử: Rừng trúc nhiều chim ở,/ Bạn với sư thanh nhàn.
Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2021
684. THỬ BẢO KHÁNH TỰ BÍCH GIAN ĐỀ
THỨ BẢO KHÁNH TỰ BÍCH GIAN ĐỀ
Chùa Tam Thai, Ngũ Hành Sơn
玄光禪師
Huyền Quang thiền sư
Trước cảnh đẹp, cảm xúc mà không nói thành lời, không tìm được tứ thơ thì lòng sầu muộn. Xem ra thi hứng không tự tìm đến. Thi nhân là người biết nuôi dưỡng cái hứng làm thơ. Niềm rung động thơ luôn như sóng vỗ bờ, thơ mới dạt dào tuôn chảy. Hứng cạn thơ khô không do trời đất mà do lòng người vậy.




